Thông tin chung về ung thư tuyến giáp
Những điểm chính
-
Ung thư tuyến giáp là bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của tuyến giáp.
-
Nhân tuyến giáp thường gặp nhưng đa số không phải là ung thư.
-
Có nhiều loại ung thư tuyến giáp khác nhau.
-
Tuổi, giới tính và việc tiếp xúc với bức xạ có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư tuyến giáp.
-
Ung thư tuyến giáp thể tủy đôi khi do một thay đổi trong gen được truyền từ cha hoặc mẹ sang con.
-
Dấu hiệu của ung thư tuyến giáp bao gồm sưng hoặc có khối u ở cổ.
-
Các xét nghiệm kiểm tra tuyến giáp, cổ và máu được dùng để chẩn đoán ung thư tuyến giáp.
-
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng (khả năng hồi phục) và các lựa chọn điều trị.
Ung thư tuyến giáp là bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của tuyến giáp.
Tuyến giáp là một tuyến nằm ở nền cổ, gần khí quản. Tuyến có hình con bướm, gồm thùy phải và thùy trái. Eo tuyến giáp là một dải mô mỏng nối hai thùy. Tuyến giáp khỏe mạnh lớn hơn một chút so với đồng xu 25 xu của Hoa Kỳ. Thông thường không thể sờ thấy tuyến giáp qua da.
Tuyến giáp sử dụng iốt, một khoáng chất có trong một số thực phẩm và trong muối iốt, để tạo ra một số hormon. Hormon tuyến giáp có các chức năng sau:
-
Kiểm soát nhịp tim, nhiệt độ cơ thể và tốc độ thức ăn được chuyển thành năng lượng (chuyển hóa).
-
Kiểm soát lượng canxi trong máu.
Nhân tuyến giáp thường gặp nhưng đa số không phải là ung thư.
Bác sĩ có thể phát hiện một khối u (nhân) trong tuyến giáp khi khám sức khỏe định kỳ. Nhân tuyến giáp là sự phát triển bất thường của các tế bào tuyến giáp trong tuyến giáp. Nhân có thể là đặc hoặc chứa dịch.
Khi phát hiện nhân tuyến giáp, thường sẽ thực hiện siêu âm tuyến giáp và sinh thiết chọc hút kim nhỏ để kiểm tra các dấu hiệu ung thư. Xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ hormon tuyến giáp và kháng thể kháng tuyến giáp trong máu cũng có thể được thực hiện để kiểm tra các loại bệnh tuyến giáp khác.
Nhân tuyến giáp thường không gây triệu chứng hoặc không cần điều trị. Đôi khi nhân tuyến giáp phát triển đủ lớn khiến người bệnh khó nuốt hoặc khó thở, và cần làm thêm xét nghiệm và điều trị. Chỉ một số ít nhân tuyến giáp được chẩn đoán là ung thư.
Có nhiều loại ung thư tuyến giáp khác nhau.
Ung thư tuyến giáp có thể được mô tả là:
-
Ung thư tuyến giáp biệt hóa, bao gồm các khối u biệt hóa tốt, khối u biệt hóa kém và khối u không biệt hóa; hoặc
-
Ung thư tuyến giáp thể tủy.
Các khối u biệt hóa tốt (ung thư tuyến giáp thể nhú và ung thư tuyến giáp thể nang) có thể điều trị được và thường có thể chữa khỏi.
Các khối u biệt hóa kém và không biệt hóa (ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa) ít gặp hơn. Những khối u này phát triển và lan rộng nhanh, đồng thời có khả năng hồi phục kém hơn. Người bệnh ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa nên được xét nghiệm phân tử để tìm đột biến trong gen BRAF.
Ung thư tuyến giáp thể tủy là một khối u thần kinh nội tiết phát triển trong các tế bào C của tuyến giáp. Các tế bào C tạo ra một hormon gọi là calcitonin, giúp duy trì nồng độ canxi khỏe mạnh trong máu.
Để biết thông tin về ung thư tuyến giáp ở trẻ em, xem Điều trị ung thư tuyến giáp ở trẻ em.
Tuổi, giới tính và việc tiếp xúc với bức xạ có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư tuyến giáp.
Bất cứ yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh đều được gọi là yếu tố nguy cơ. Có yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ mắc ung thư; không có yếu tố nguy cơ cũng không có nghĩa là bạn sẽ không mắc ung thư. Hãy trao đổi với bác sĩ nếu bạn nghĩ mình có thể có nguy cơ.
Các yếu tố nguy cơ của ung thư tuyến giáp bao gồm:
-
Trong độ tuổi từ 25 đến 65.
-
Là nữ.
-
Tiếp xúc với bức xạ ở vùng đầu và cổ khi còn là trẻ sơ sinh hoặc trẻ em, hoặc tiếp xúc với bụi phóng xạ. Ung thư có thể xuất hiện sớm nhất là 5 năm sau khi tiếp xúc.
-
Có tiền sử bướu giáp (tuyến giáp to).
-
Có tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp hoặc ung thư tuyến giáp.
-
Có một số tình trạng di truyền nhất định, như ung thư tuyến giáp thể tủy gia đình (FMTC), hội chứng đa u tân sinh nội tiết loại 2A (MEN2A), hoặc hội chứng đa u tân sinh nội tiết loại 2B (MEN2B).
-
Là người châu Á.
Ung thư tuyến giáp thể tủy đôi khi do một thay đổi trong gen được truyền từ cha hoặc mẹ sang con.
Các gen trong tế bào mang thông tin di truyền từ cha mẹ sang con. Một thay đổi nhất định trong gen RET được truyền từ cha mẹ sang con (di truyền) có thể gây ung thư tuyến giáp thể tủy.
Có một xét nghiệm di truyền được sử dụng để kiểm tra gen bị thay đổi. Người bệnh được xét nghiệm trước để xem có mang gen bị thay đổi hay không. Nếu người bệnh có gen này, các thành viên khác trong gia đình cũng có thể được xét nghiệm để xác định liệu họ có nguy cơ tăng mắc ung thư tuyến giáp thể tủy hay không. Các thành viên trong gia đình, bao gồm cả trẻ nhỏ, có gen bị thay đổi có thể được phẫu thuật cắt tuyến giáp. Việc này có thể làm giảm khả năng phát triển ung thư tuyến giáp thể tủy.
Dấu hiệu của ung thư tuyến giáp bao gồm sưng hoặc có khối u ở cổ.
Ung thư tuyến giáp có thể không gây dấu hiệu hoặc triệu chứng sớm. Đôi khi bệnh được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ. Dấu hiệu hoặc triệu chứng có thể xuất hiện khi khối u lớn hơn. Các tình trạng khác cũng có thể gây ra những dấu hiệu hoặc triệu chứng tương tự. Hãy đi khám bác sĩ nếu bạn có bất kỳ biểu hiện nào sau đây:
-
Một khối u (nhân) ở cổ.
-
Khó thở.
-
Khó nuốt.
-
Đau khi nuốt.
-
Khàn tiếng.
Các xét nghiệm kiểm tra tuyến giáp, cổ và máu được dùng để chẩn đoán ung thư tuyến giáp.
Các xét nghiệm và thủ thuật sau đây có thể được sử dụng:
-
Khám sức khỏe và khai thác tiền sử bệnh: Khám cơ thể để kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe chung, bao gồm kiểm tra các dấu hiệu bệnh như khối u (nhân) hoặc sưng ở cổ, thanh quản và hạch bạch huyết, cùng bất kỳ dấu hiệu bất thường nào khác. Bác sĩ cũng sẽ hỏi về thói quen sức khỏe, các bệnh đã mắc trước đây và các điều trị trước đó của người bệnh.
-
Nội soi thanh quản: Thủ thuật bác sĩ kiểm tra thanh quản bằng gương hoặc bằng ống soi thanh quản.
Ống soi thanh quản là một dụng cụ mỏng, dạng ống, có đèn và thấu kính để quan sát. Khối u tuyến giáp có thể đè ép lên dây thanh âm. Nội soi thanh quản được thực hiện để xem dây thanh âm có cử động bình thường hay không.
- Xét nghiệm hormon trong máu: Thủ thuật lấy mẫu máu để đo lượng một số hormon do các cơ quan và mô trong cơ thể tiết vào máu. Nồng độ bất thường, cao hơn hoặc thấp hơn bình thường, của một chất có thể là dấu hiệu bệnh ở cơ quan hoặc mô tạo ra chất đó. Máu có thể được kiểm tra nồng độ bất thường của hormon kích thích tuyến giáp (TSH). TSH được tạo ra bởi tuyến yên trong não. Hormon này kích thích giải phóng hormon tuyến giáp và kiểm soát tốc độ phát triển của các tế bào nang tuyến giáp.
Máu cũng có thể được kiểm tra nồng độ cao của hormon calcitonin và kháng thể kháng tuyến giáp.
-
Xét nghiệm hóa sinh máu: Thủ thuật lấy mẫu máu để đo lượng một số chất, như canxi, do các cơ quan và mô trong cơ thể giải phóng vào máu. Nồng độ bất thường, cao hơn hoặc thấp hơn bình thường, của một chất có thể là dấu hiệu của bệnh.
-
Siêu âm: Thủ thuật trong đó sóng âm năng lượng cao (siêu âm) dội lại từ các mô hoặc cơ quan bên trong cổ và tạo ra tiếng vọng. Các tiếng vọng tạo thành hình ảnh mô cơ thể, gọi là hình siêu âm. Hình ảnh có thể được in ra để xem sau. Thủ thuật này có thể cho biết kích thước của nhân tuyến giáp và liệu nhân là đặc hay là nang chứa dịch. Siêu âm có thể được dùng để hướng dẫn sinh thiết chọc hút kim nhỏ.
-
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan hoặc CAT scan): Thủ thuật tạo ra một loạt hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể, như vùng cổ, được chụp từ nhiều góc độ khác nhau. Hình ảnh được tạo ra bằng máy tính kết nối với máy chụp X quang. Chất cản quang có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc uống để giúp các cơ quan hoặc mô hiện rõ hơn. Thủ thuật này còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp điện toán hoặc chụp cắt lớp trục điện toán.
-
Sinh thiết chọc hút kim nhỏ tuyến giáp: Lấy mô tuyến giáp bằng kim nhỏ. Kim được đưa qua da vào tuyến giáp. Nhiều mẫu mô được lấy từ các phần khác nhau của tuyến giáp. Bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát các mẫu mô dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư. Vì loại ung thư tuyến giáp có thể khó chẩn đoán, người bệnh nên yêu cầu mẫu sinh thiết được kiểm tra bởi bác sĩ giải phẫu bệnh có kinh nghiệm chẩn đoán ung thư tuyến giáp.
-
Sinh thiết phẫu thuật: Lấy nhân tuyến giáp hoặc một thùy tuyến giáp trong khi phẫu thuật để các tế bào và mô có thể được bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát dưới kính hiển vi nhằm kiểm tra các dấu hiệu ung thư. Vì loại ung thư tuyến giáp có thể khó chẩn đoán, người bệnh nên yêu cầu mẫu sinh thiết được kiểm tra bởi bác sĩ giải phẫu bệnh có kinh nghiệm chẩn đoán ung thư tuyến giáp.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng (khả năng hồi phục) và các lựa chọn điều trị.
Tiên lượng và các lựa chọn điều trị phụ thuộc vào những yếu tố sau:
-
Tuổi của người bệnh tại thời điểm chẩn đoán.
-
Loại ung thư tuyến giáp.
-
Giai đoạn ung thư.
-
Ung thư có được loại bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật hay không.
-
Người bệnh có đa u tân sinh nội tiết loại 2B (MEN 2B) hay không.
-
Tình trạng sức khỏe chung của người bệnh.
-
Ung thư mới được chẩn đoán hay đã tái phát (quay trở lại).
Các giai đoạn của ung thư tuyến giáp
Những điểm chính
-
Sau khi chẩn đoán ung thư tuyến giáp, các xét nghiệm được thực hiện để xác định tế bào ung thư đã lan trong tuyến giáp hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể hay chưa.
-
Có ba con đường ung thư lan rộng trong cơ thể.
-
Ung thư có thể lan từ nơi bắt đầu sang các bộ phận khác của cơ thể.
-
Các giai đoạn được dùng để mô tả ung thư tuyến giáp dựa trên loại ung thư tuyến giáp và tuổi của người bệnh: Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh dưới 55 tuổi; ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh từ 55 tuổi trở lên; ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa ở người bệnh mọi lứa tuổi; ung thư tuyến giáp thể tủy ở người bệnh mọi lứa tuổi.
-
Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh dưới 55 tuổi
-
Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh từ 55 tuổi trở lên
-
Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa ở người bệnh mọi lứa tuổi
-
Ung thư tuyến giáp thể tủy ở người bệnh mọi lứa tuổi
-
Ung thư tuyến giáp có thể tái phát (quay trở lại) sau khi đã điều trị.
Sau khi chẩn đoán ung thư tuyến giáp, các xét nghiệm được thực hiện để xác định tế bào ung thư đã lan trong tuyến giáp hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể hay chưa.
Quá trình được sử dụng để xác định ung thư đã lan trong tuyến giáp hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể hay chưa được gọi là phân giai đoạn. Thông tin thu thập được từ quá trình phân giai đoạn xác định giai đoạn bệnh. Việc biết tuổi của người bệnh và giai đoạn ung thư là quan trọng để lập kế hoạch điều trị.
Các xét nghiệm và thủ thuật sau đây có thể được sử dụng trong quá trình phân giai đoạn:
-
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan hoặc CAT scan): Thủ thuật tạo ra một loạt hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể, như ngực, bụng và não, được chụp từ nhiều góc độ khác nhau. Hình ảnh được tạo ra bằng máy tính kết nối với máy chụp X quang. Chất cản quang có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc uống để giúp các cơ quan hoặc mô hiện rõ hơn. Thủ thuật này còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp điện toán hoặc chụp cắt lớp trục điện toán.
-
Siêu âm: Thủ thuật trong đó sóng âm năng lượng cao (siêu âm) dội lại từ các mô hoặc cơ quan bên trong và tạo ra tiếng vọng. Các tiếng vọng tạo thành hình ảnh mô cơ thể, gọi là hình siêu âm. Hình ảnh có thể được in ra để xem sau.
-
Chụp X quang ngực: Chụp X quang các cơ quan và xương bên trong lồng ngực. Tia X là một loại chùm năng lượng có thể đi xuyên qua cơ thể và ghi lên phim, tạo ra hình ảnh các vùng bên trong cơ thể.
-
Xạ hình xương: Thủ thuật kiểm tra xem có các tế bào phân chia nhanh, như tế bào ung thư, trong xương hay không. Một lượng rất nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch và di chuyển theo dòng máu. Chất phóng xạ tập trung ở những xương có ung thư và được máy quét phát hiện.
-
Sinh thiết hạch cửa (sentinel lymph node biopsy): Loại bỏ hạch cửa trong khi phẫu thuật. Hạch cửa là hạch bạch huyết đầu tiên trong một nhóm hạch bạch huyết nhận dẫn lưu bạch huyết từ khối u nguyên phát. Đây là hạch bạch huyết đầu tiên mà ung thư có khả năng lan tới từ khối u nguyên phát. Một chất phóng xạ và/hoặc thuốc nhuộm màu xanh được tiêm gần khối u. Chất này hoặc thuốc nhuộm đi qua các ống bạch huyết đến các hạch bạch huyết. Hạch bạch huyết đầu tiên nhận chất này hoặc thuốc nhuộm sẽ được lấy bỏ. Bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát mô dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư. Nếu không tìm thấy tế bào ung thư, có thể không cần lấy bỏ thêm hạch bạch huyết.
Có ba con đường ung thư lan rộng trong cơ thể.
Ung thư có thể lan qua mô, hệ bạch huyết và máu:
-
Mô. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách phát triển xâm lấn vào các vùng lân cận.
-
Hệ bạch huyết. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách đi vào hệ bạch huyết. Ung thư di chuyển qua các mạch bạch huyết đến những phần khác của cơ thể.
-
Máu. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách đi vào máu. Ung thư di chuyển qua các mạch máu đến những phần khác của cơ thể.
Ung thư có thể lan từ nơi bắt đầu đến những phần khác của cơ thể.
Khi ung thư lan đến một phần khác của cơ thể, tình trạng này được gọi là di căn (metastasis). Các tế bào ung thư tách ra từ nơi chúng bắt đầu, tức khối u nguyên phát, và di chuyển qua hệ bạch huyết hoặc máu.
-
Hệ bạch huyết. Ung thư đi vào hệ bạch huyết, di chuyển qua các mạch bạch huyết và hình thành một khối u, gọi là khối u di căn, ở một phần khác của cơ thể.
-
Máu. Ung thư đi vào máu, di chuyển qua các mạch máu và hình thành một khối u, gọi là khối u di căn, ở một phần khác của cơ thể.
Khối u di căn có cùng loại ung thư với khối u nguyên phát. Ví dụ, nếu ung thư tuyến giáp lan đến phổi, các tế bào ung thư ở phổi thực chất là tế bào ung thư tuyến giáp. Bệnh này là ung thư tuyến giáp di căn, không phải ung thư phổi.
Các giai đoạn được dùng để mô tả ung thư tuyến giáp dựa trên loại ung thư tuyến giáp và tuổi của người bệnh:
Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh dưới 55 tuổi
-
Giai đoạn I: Ở giai đoạn I của ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và có thể đã lan đến các mô và hạch bạch huyết lân cận. Ung thư chưa lan đến các phần khác của cơ thể.
-
Giai đoạn II: Ở giai đoạn II của ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư có thể đã lan đến các mô và hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc xương.
Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở người bệnh từ 55 tuổi trở lên
-
Giai đoạn I: Ở giai đoạn I của ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, ung thư chỉ ở tuyến giáp và khối u có kích thước 4 centimet hoặc nhỏ hơn.
-
Giai đoạn II: Ở giai đoạn II của ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, có một trong các tình trạng sau: ung thư ở tuyến giáp và khối u có kích thước 4 centimet hoặc nhỏ hơn; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc ung thư ở tuyến giáp, khối u lớn hơn 4 centimet và ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ và có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận.
-
Ung thư ở tuyến giáp và khối u có kích thước 4 centimet hoặc nhỏ hơn; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc
-
Ung thư ở tuyến giáp, khối u lớn hơn 4 centimet và ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ và có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận.
-
Giai đoạn III: Ở giai đoạn III của ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản hoặc dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Giai đoạn IV: Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang giai đoạn IV được chia thành giai đoạn IVA và IVB. Ở giai đoạn IVA, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến mô phía trước cột sống hoặc bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở vùng giữa hai phổi. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết. Ở giai đoạn IVB, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc xương. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Ở giai đoạn IVA, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến mô phía trước cột sống hoặc bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở vùng giữa hai phổi. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Ở giai đoạn IVB, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc xương. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa ở người bệnh mọi lứa tuổi
Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa phát triển nhanh và thường đã lan trong vùng cổ khi được phát hiện. Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa được xem là ung thư tuyến giáp giai đoạn IV. Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa giai đoạn IV được chia thành giai đoạn IVA, IVB và IVC.
-
Ở giai đoạn IVA, ung thư chỉ ở tuyến giáp và khối u có thể có bất kỳ kích thước nào.
-
Ở giai đoạn IVB, có một trong các tình trạng sau: ung thư ở tuyến giáp và khối u có thể có bất kỳ kích thước nào; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ và có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản, dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản, hoặc mô phía trước cột sống, hoặc đã bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở vùng giữa hai phổi; ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Ung thư ở tuyến giáp và khối u có thể có bất kỳ kích thước nào; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ và có thể đã lan đến các hạch bạch huyết lân cận; hoặc
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản, dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản, hoặc mô phía trước cột sống, hoặc đã bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở vùng giữa hai phổi; ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Ở giai đoạn IVC, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc xương. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
Ung thư tuyến giáp thể tủy ở người bệnh mọi lứa tuổi
-
Giai đoạn I: Ở giai đoạn I của ung thư tuyến giáp thể tủy, ung thư chỉ ở tuyến giáp và khối u có kích thước 2 centimet hoặc nhỏ hơn.
-
Giai đoạn II: Ở giai đoạn II của ung thư tuyến giáp thể tủy, có một trong các tình trạng sau: ung thư chỉ ở tuyến giáp và khối u lớn hơn 2 centimet; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ.
-
Ung thư chỉ ở tuyến giáp và khối u lớn hơn 2 centimet; hoặc
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ.
-
Giai đoạn III: Ở giai đoạn III của ung thư tuyến giáp thể tủy, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư có thể đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên của khí quản hoặc thanh quản.
-
Giai đoạn IV: Ung thư tuyến giáp thể tủy giai đoạn IV được chia thành giai đoạn IVA, IVB và IVC. Ở giai đoạn IVA, có một trong các tình trạng sau: khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản hoặc dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản; ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư có thể đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ.
-
Ở giai đoạn IVA, có một trong các tình trạng sau: khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản hoặc dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản; ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ; hoặc khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư có thể đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ.
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan từ tuyến giáp đến mô mềm dưới da, thực quản, khí quản, thanh quản hoặc dây thần kinh quặt ngược thanh quản, là dây thần kinh đi đến thanh quản; ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ; hoặc
-
Khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư có thể đã lan từ tuyến giáp đến các cơ lân cận ở cổ; ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ.
-
Ở giai đoạn IVB, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến mô phía trước cột sống hoặc đến cột sống hoặc đã bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở vùng giữa hai phổi. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-
Ở giai đoạn IVC, khối u có thể có bất kỳ kích thước nào và ung thư đã lan đến các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc gan. Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
Ung thư tuyến giáp có thể tái phát sau khi đã được điều trị.
Ung thư có thể tái phát ở tuyến giáp hoặc ở những phần khác của cơ thể.
Sau khi đã rõ giai đoạn, xem tiếp các hướng điều trị tại Điều trị ung thư tuyến giáp theo giai đoạn.
