Mục lục
Phòng ngừa là gì?
Phòng ngừa ung thư là những việc được thực hiện để giảm khả năng mắc ung thư. Phòng ngừa ung thư giúp giảm số ca ung thư mới trong một nhóm hoặc một quần thể. Hy vọng rằng điều này sẽ làm giảm số người tử vong do ung thư.
Để ngăn ung thư mới hình thành, các nhà khoa học nghiên cứu những yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ. Bất kỳ yếu tố nào làm tăng khả năng mắc ung thư được gọi là yếu tố nguy cơ ung thư; bất kỳ yếu tố nào làm giảm khả năng mắc ung thư được gọi là yếu tố bảo vệ chống ung thư.
Có thể tránh được một số yếu tố nguy cơ ung thư, nhưng nhiều yếu tố thì không. Ví dụ, hút thuốc và thừa hưởng một số gen nhất định đều là yếu tố nguy cơ của một số loại ung thư, nhưng chỉ có thể tránh hút thuốc. Tập thể dục thường xuyên và chế độ ăn uống lành mạnh có thể là yếu tố bảo vệ đối với một số loại ung thư. Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư, nhưng không có nghĩa là bạn sẽ không mắc ung thư.
Các cách phòng ngừa ung thư khác nhau đang được nghiên cứu, bao gồm:
-
Thay đổi lối sống hoặc thói quen ăn uống.
-
Tránh những yếu tố đã được biết là gây ung thư.
-
Dùng thuốc để điều trị tình trạng tiền ung thư hoặc ngăn ung thư hình thành.
Thông tin chung về ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
Những điểm chính
-
Ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát là những bệnh trong đó các tế bào ác tính (tế bào ung thư) hình thành ở buồng trứng, vòi trứng hoặc phúc mạc.
-
Ung thư buồng trứng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trong hệ sinh sản nữ.
Ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát là những bệnh trong đó các tế bào ác tính (tế bào ung thư) hình thành ở buồng trứng, vòi trứng hoặc phúc mạc.
Buồng trứng là một cặp cơ quan trong hệ sinh sản nữ. Buồng trứng nằm trong vùng chậu, mỗi bên tử cung một buồng. Tử cung là cơ quan rỗng, hình quả lê, nơi thai nhi phát triển. Mỗi buồng trứng có kích thước và hình dạng gần giống một hạt hạnh nhân. Buồng trứng tạo ra trứng và các hormone nữ, là những chất kiểm soát cách một số tế bào hoặc cơ quan hoạt động trong cơ thể.
Vòi trứng là một cặp ống dài, nhỏ, nằm ở mỗi bên tử cung. Trứng đi từ buồng trứng qua vòi trứng đến tử cung. Ung thư đôi khi bắt đầu ở phần cuối của vòi trứng gần buồng trứng và lan đến buồng trứng.
Phúc mạc là mô lót thành bụng và bao phủ các cơ quan trong ổ bụng. Ung thư phúc mạc nguyên phát là ung thư hình thành trong phúc mạc, không phải ung thư lan đến phúc mạc từ một bộ phận khác của cơ thể. Ung thư đôi khi bắt đầu trong phúc mạc và lan đến buồng trứng.
Ung thư buồng trứng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trong hệ sinh sản nữ.
Ung thư buồng trứng thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh. Từ năm 2012 đến năm 2021, số ca ung thư buồng trứng mới giảm nhẹ mỗi năm. Số người tử vong do ung thư buồng trứng cũng giảm nhẹ mỗi năm từ năm 2013 đến năm 2022.
Phụ nữ có tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng và hoặc thừa hưởng một số thay đổi trong gen, chẳng hạn gen BRCA1 hoặc BRCA2, có nguy cơ cao hơn so với những người không có tiền sử gia đình hoặc không thừa hưởng những thay đổi gen này. Đối với phụ nữ có nguy cơ di truyền, tư vấn di truyền và xét nghiệm di truyền có thể giúp tìm hiểu thêm về khả năng mắc ung thư buồng trứng.
Khó phát hiện sớm ung thư buồng trứng. Ung thư buồng trứng giai đoạn sớm có thể không gây ra triệu chứng. Khi triệu chứng xuất hiện, ung thư buồng trứng thường đã ở giai đoạn tiến triển.
Các bản tóm tắt PDQ khác có thông tin liên quan đến ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát bao gồm:
-
Di truyền học của ung thư vú và ung thư phụ khoa (viết cho chuyên gia y tế)
-
Tầm soát ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
-
Điều trị ung thư biểu mô buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
Phòng ngừa ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
Những điểm chính
-
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư.
-
Các yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát bao gồm: Tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát Nguy cơ di truyền Liệu pháp hormone thay thế Cân nặng và chiều cao Lạc nội mạc tử cung
-
Tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
-
Nguy cơ di truyền
-
Liệu pháp hormone thay thế
-
Cân nặng và chiều cao
-
Lạc nội mạc tử cung
-
Các yếu tố bảo vệ đối với ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát bao gồm: Thuốc tránh thai đường uống Thắt vòi trứng Sinh con Cắt vòi trứng Cho con bú Phẫu thuật cắt vòi trứng và buồng trứng để giảm nguy cơ
-
Thuốc tránh thai đường uống
-
Thắt vòi trứng
-
Sinh con
-
Cắt vòi trứng
-
Cho con bú
-
Phẫu thuật cắt vòi trứng và buồng trứng để giảm nguy cơ
-
Chưa rõ những yếu tố sau có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát hay không: Chế độ ăn uống Rượu Aspirin và thuốc chống viêm không steroid Bột talc Điều trị vô sinh
-
Chế độ ăn uống
-
Rượu
-
Aspirin và thuốc chống viêm không steroid
-
Bột talc
-
Điều trị vô sinh
-
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được thực hiện để nghiên cứu các cách phòng ngừa ung thư.
-
Các cách mới để phòng ngừa ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư.
Tránh các yếu tố nguy cơ ung thư có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc, thừa cân và không tập thể dục đủ. Tăng các yếu tố bảo vệ, chẳng hạn như bỏ hút thuốc và tập thể dục, cũng có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Hãy trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia y tế khác về cách bạn có thể giảm nguy cơ mắc ung thư.
Các yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát bao gồm:
Tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát
Phụ nữ có mẹ hoặc chị em gái từng mắc ung thư buồng trứng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn. Phụ nữ có từ hai người thân trở lên mắc ung thư buồng trứng cũng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn.
Nguy cơ di truyền
Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng ở phụ nữ thừa hưởng một số thay đổi trong gen, chẳng hạn gen BRCA1 hoặc BRCA2.
Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cũng tăng ở phụ nữ mắc một số hội chứng di truyền, chẳng hạn:
-
Hội chứng ung thư buồng trứng gia đình đặc hiệu theo vị trí.
-
Hội chứng ung thư vú và buồng trứng gia đình.
-
Ung thư đại trực tràng di truyền không do bệnh đa polyp (HNPCC; còn gọi là hội chứng Lynch).
Liệu pháp hormone thay thế
Phụ nữ dùng liệu pháp hormone thay thế (HRT) sau mãn kinh có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng nhẹ. Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cũng tăng ở phụ nữ mới sử dụng HRT, ngay cả khi họ dùng thuốc dưới 5 năm. Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng là như nhau đối với HRT chỉ chứa estrogen hoặc HRT kết hợp estrogen và progestin.
HRT dùng qua da có thể có nguy cơ thấp hơn HRT dùng đường uống. Khi ngừng HRT, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng giảm dần theo thời gian.
Tuổi của phụ nữ khi dùng HRT không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
Cân nặng và chiều cao
Thừa cân hoặc béo phì có liên quan đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn. Béo phì cũng liên quan đến nguy cơ tử vong do ung thư buồng trứng cao hơn. Chiều cao lớn cũng có thể liên quan đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng nhẹ.
Lạc nội mạc tử cung
Phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn.
Các yếu tố bảo vệ đối với ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát bao gồm:
Thuốc tránh thai đường uống
Dùng thuốc tránh thai đường uống, còn gọi là “thuốc tránh thai”, làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Dùng thuốc tránh thai đường uống càng lâu thì nguy cơ có thể càng thấp. Mức giảm nguy cơ có thể kéo dài đến 30 năm sau khi phụ nữ ngừng dùng thuốc tránh thai đường uống.
Dùng thuốc tránh thai đường uống làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. Nguy cơ này cao hơn ở phụ nữ đồng thời hút thuốc.
Thắt vòi trứng
Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng giảm ở phụ nữ đã thắt vòi trứng, tức là phẫu thuật đóng cả hai vòi trứng.
Sinh con
Phụ nữ đã sinh con có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng thấp hơn so với phụ nữ chưa sinh con. Sinh nhiều hơn một con giúp giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng thêm nữa.
Cắt vòi trứng
Một số nghiên cứu cho thấy cắt vòi trứng, tức là phẫu thuật cắt bỏ một hoặc cả hai vòi trứng, có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Khi cắt cả hai vòi trứng, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng giảm nhiều hơn so với khi chỉ cắt một vòi trứng.
Cho con bú
Cho con bú có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Phụ nữ cho con bú càng lâu thì nguy cơ mắc ung thư buồng trứng càng thấp. Phụ nữ cho con bú ít nhất 8 đến 10 tháng có mức giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng nhiều nhất.
Phẫu thuật cắt vòi trứng và buồng trứng để giảm nguy cơ
Một số phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư buồng trứng có thể lựa chọn phẫu thuật cắt vòi trứng và buồng trứng để giảm nguy cơ. Đây là phẫu thuật cắt bỏ vòi trứng và buồng trứng khi chưa có dấu hiệu ung thư. Những phụ nữ thừa hưởng một số thay đổi trong gen BRCA1 hoặc BRCA2 hoặc mắc hội chứng di truyền thuộc nhóm này.
Điều rất quan trọng là cần đánh giá nguy cơ ung thư và được tư vấn trước khi đưa ra quyết định này. Có thể trao đổi về những yếu tố sau và các yếu tố khác:
-
Vô sinh.
-
Mãn kinh sớm: Việc giảm nồng độ estrogen do cắt bỏ buồng trứng có thể gây mãn kinh sớm. Các triệu chứng mãn kinh có thể trở nên nặng hơn và bao gồm: Cơn bốc hỏa. Đổ mồ hôi ban đêm. Khó ngủ. Thay đổi tâm trạng. Giảm ham muốn tình dục. Bệnh tim. Khô âm đạo. Đi tiểu thường xuyên. Loãng xương (giảm mật độ xương). Các triệu chứng này có thể không giống nhau ở tất cả phụ nữ. Có thể sử dụng liệu pháp hormone thay thế (HRT) để giảm các triệu chứng này.
-
Cơn bốc hỏa.
-
Đổ mồ hôi ban đêm.
-
Khó ngủ.
-
Thay đổi tâm trạng.
-
Giảm ham muốn tình dục.
-
Bệnh tim.
-
Khô âm đạo.
-
Đi tiểu thường xuyên.
-
Loãng xương (giảm mật độ xương).
-
Nguy cơ ung thư buồng trứng trong phúc mạc: Phụ nữ đã phẫu thuật cắt vòi trứng và buồng trứng để giảm nguy cơ vẫn còn một nguy cơ nhỏ mắc ung thư buồng trứng trong phúc mạc, là lớp mô mỏng lót mặt trong ổ bụng. Tình trạng này hiếm gặp, nhưng có thể xảy ra nếu các tế bào ung thư buồng trứng đã lan đến phúc mạc trước khi phẫu thuật hoặc nếu còn sót lại một phần mô buồng trứng sau phẫu thuật.
Chưa rõ những yếu tố sau có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát hay không:
Chế độ ăn uống
Các nghiên cứu về những yếu tố trong chế độ ăn uống chưa tìm thấy mối liên hệ rõ ràng với ung thư buồng trứng.
Rượu
Các nghiên cứu chưa cho thấy mối liên hệ giữa uống rượu và nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
Aspirin và thuốc chống viêm không steroid
Một số nghiên cứu về aspirin và thuốc chống viêm không steroid (NSAID) cho thấy nguy cơ mắc ung thư buồng trứng giảm, nhưng một số nghiên cứu khác thì không.
Bột talc
Các nghiên cứu ở phụ nữ sử dụng bột talc rắc lên vùng đáy chậu, là vùng giữa âm đạo và hậu môn, chưa tìm thấy bằng chứng rõ ràng về việc tăng nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
Điều trị vô sinh
Nhìn chung, các nghiên cứu ở phụ nữ sử dụng thuốc hỗ trợ sinh sản chưa tìm thấy bằng chứng rõ ràng về việc tăng nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Nguy cơ ung thư buồng trứng xâm lấn có thể cao hơn ở những phụ nữ không mang thai sau khi dùng thuốc hỗ trợ sinh sản.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được thực hiện để nghiên cứu các cách phòng ngừa ung thư.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được thực hiện để nghiên cứu những cách làm giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư. Một số thử nghiệm phòng ngừa ung thư có sự tham gia của những người khỏe mạnh, có thể có hoặc không có nguy cơ mắc ung thư cao hơn. Các thử nghiệm phòng ngừa khác có sự tham gia của những người từng mắc ung thư và đang cố gắng ngăn ung thư tái phát hoặc ngăn xuất hiện ung thư thứ hai.
Mục đích của một số thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư là tìm hiểu liệu những việc mọi người thực hiện có thể phòng ngừa ung thư hay không. Những việc này có thể bao gồm ăn trái cây và rau, tập thể dục, bỏ hút thuốc hoặc dùng một số loại thuốc, vitamin, khoáng chất hoặc thực phẩm bổ sung.
Các cách mới để phòng ngừa ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc nguyên phát đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Có thể tìm thông tin về các thử nghiệm lâm sàng do Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCI) hỗ trợ trên trang web tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của NCI. Có thể tìm các thử nghiệm lâm sàng do những tổ chức khác hỗ trợ trên trang web ClinicalTrials.gov.
