Giai đoạn và mức độ lan rộng
Hệ thống phân loại u, hạch, di căn (TNM)
Hệ thống phân loại u, hạch, di căn (TNM) là cách phổ biến nhất để mô tả giai đoạn ung thư: T là khối u, N là hạch bạch huyết, M là di căn xa. Ví dụ T2N1M0 rồi được gộp thành giai đoạn I đến IV.
Bài giải thích thuật ngữ giúp bạn hiểu giấy tờ khám bệnh và trao đổi với bác sĩ, không thay thế tư vấn của bác sĩ điều trị. Cập nhật ngày 1/10/2026. Quy trình biên tập
Hệ thống phân loại u, hạch, di căn là gì
Hệ thống phân loại u, hạch, di căn (TNM) là cách mô tả lượng ung thư và mức độ lan rộng trong cơ thể người bệnh [3]. Hệ thống này do Ủy ban Liên hợp Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) xây dựng và cập nhật định kỳ [2] [3]. Đây là hệ thống phân giai đoạn được dùng rộng rãi nhất, và thường xuất hiện trên phiếu giải phẫu bệnh [1].
Ba chữ cái lấy từ tiếng Anh [1] [2]:
- T (Tumor, khối u): kích thước và mức xâm lấn của khối u nguyên phát.
- N (Node, hạch): ung thư đã lan đến hạch bạch huyết vùng hay chưa, bao nhiêu hạch.
- M (Metastasis, di căn): ung thư đã lan đến bộ phận xa hay chưa.
Cách đọc từng chữ
T, khối u [1] [2]:
- TX: không đánh giá được khối u.
- T0: không tìm thấy khối u nguyên phát.
- Tis: ung thư tại chỗ, tế bào chỉ nằm ở lớp nơi chúng bắt đầu.
- T1 đến T4: số càng cao, khối u càng lớn hoặc càng xâm lấn sâu vào mô xung quanh. Có thể chia nhỏ, như T3a, T3b.
N, hạch bạch huyết [1] [2]:
- NX: không đánh giá được hạch.
- N0: hạch lân cận không có ung thư.
- N1 đến N3: số càng cao, càng nhiều hạch bị ảnh hưởng hoặc hạch ở vị trí xa hơn.
M, di căn xa [1] [2]:
- M0: chưa thấy di căn xa.
- M1: đã có di căn xa.
Ví dụ: "T2N1M0" nghĩa là khối u ở mức T2, đã lan đến một số hạch vùng (N1), chưa di căn xa (M0) [1]. Ý nghĩa cụ thể của T2 hay N1 thì phụ thuộc loại ung thư.
Các tiền tố thường gặp
Trước các chữ cái đôi khi có chữ thường, cho biết giai đoạn được xác định lúc nào [2]:
- c (clinical, lâm sàng): dựa trên khám, chụp chiếu, nội soi, sinh thiết trước điều trị, ví dụ cT1.
- p (pathological, giải phẫu bệnh): dựa trên kết quả mổ và soi mô, ví dụ pN2. Thường chính xác hơn giai đoạn lâm sàng.
- y: xếp lại sau điều trị tân bổ trợ (hóa trị hoặc xạ trị trước mổ), ví dụ ypT2.
- r: xếp lại khi ung thư tái phát hoặc tiến triển, ví dụ rpT2.
Vì sao điều này quan trọng với người bệnh
Sau khi có T, N và M, bác sĩ gộp lại thành giai đoạn chung, thường từ I đến IV (đôi khi có giai đoạn 0) [1] [2]. Giai đoạn chung giúp chọn điều trị, ước đoán tiên lượng và tìm thử nghiệm lâm sàng phù hợp [1].
Một vài điều cần biết:
- Mỗi loại ung thư có bảng phân loại riêng. Ở loại này T dựa vào kích thước, ở loại khác lại dựa vào độ sâu xâm lấn; một số loại không có N3 [2].
- Không chỉ có T, N, M. Với một số ung thư, giai đoạn còn tính đến độ mô học, loại tế bào, vị trí khối u, chỉ số dấu ấn khối u (như PSA trong ung thư tuyến tiền liệt), thụ thể nội tiết (trong ung thư vú) hoặc tuổi (trong ung thư tuyến giáp) [2].
- Một số bệnh không dùng hệ thống này, như u não, u tủy sống và phần lớn ung thư máu [1].
- Giai đoạn ban đầu được giữ nguyên. Nếu sau này bệnh thay đổi, thông tin mới được ghi thêm chứ không thay thế giai đoạn lúc chẩn đoán [1] [2].
Câu hỏi nên hỏi bác sĩ
- Chỉ số T, N, M của tôi là gì, và gộp lại là giai đoạn mấy?
- Đây là giai đoạn lâm sàng hay giai đoạn sau mổ?
- Với loại ung thư của tôi, T và N cụ thể được đánh giá dựa trên điều gì?
- Giai đoạn này thay đổi kế hoạch điều trị của tôi thế nào?
Nguồn tham khảo
- National Cancer Institute, Cancer Staging: https://www.cancer.gov/about-cancer/diagnosis-staging/staging
- American Cancer Society, Cancer Staging: https://www.cancer.org/cancer/diagnosis-staging/staging.html
- NCI Dictionary of Cancer Terms, "TNM staging system": https://www.cancer.gov/publications/dictionaries/cancer-terms/def/tnm-staging-system
