Mục lục
- Chẩn đoán
- Các xét nghiệm để chẩn đoán ung thư tinh hoàn
- Tiên lượng ung thư tinh hoàn
- Các nhóm tiên lượng của khối u tinh hoàn
- Các giai đoạn
- Các xét nghiệm để phân giai đoạn ung thư tinh hoàn
- Ung thư lan rộng trong cơ thể như thế nào
- Giai đoạn 0
- Ung thư tinh hoàn giai đoạn I (1)
- Ung thư tinh hoàn giai đoạn II (2)
- Ung thư tinh hoàn giai đoạn III (3)
- Ung thư tinh hoàn tái phát
Chẩn đoán
Các xét nghiệm để chẩn đoán ung thư tinh hoàn
Ngoài việc hỏi về tiền sử sức khỏe cá nhân và gia đình của bạn, cũng như khám thực thể, bác sĩ có thể thực hiện các xét nghiệm và thủ thuật sau:
-
Khám tinh hoàn: Bác sĩ kiểm tra xem tinh hoàn có khối u, sưng hoặc đau hay không.
-
Siêu âm tinh hoàn: Thủ thuật sử dụng sóng âm năng lượng cao (siêu âm) truyền vào các mô hoặc cơ quan bên trong cơ thể và tạo ra tiếng dội. Tiếng dội tạo thành hình ảnh của các mô cơ thể, được gọi là hình siêu âm.
-
Xét nghiệm dấu ấn khối u huyết thanh: Thủ thuật xét nghiệm mẫu máu để đo nồng độ một số chất do các cơ quan, mô hoặc tế bào khối u trong cơ thể giải phóng vào máu. Một số chất có liên quan đến các loại ung thư cụ thể khi nồng độ của chúng trong máu tăng cao. Những chất này được gọi là dấu ấn khối u. Các dấu ấn khối u sau được dùng để phát hiện ung thư tinh hoàn: Alpha-fetoprotein (AFP). Beta-human chorionic gonadotropin (beta-hCG).
-
Alpha-fetoprotein (AFP).
-
Beta-human chorionic gonadotropin (beta-hCG).
Nồng độ dấu ấn khối u được đo trước khi cắt tinh hoàn đường bẹn và sinh thiết, nhằm hỗ trợ chẩn đoán ung thư tinh hoàn.
- Cắt tinh hoàn đường bẹn: Thủ thuật cắt bỏ toàn bộ tinh hoàn qua một đường rạch ở vùng bẹn. Sau đó, một mẫu mô từ tinh hoàn được quan sát dưới kính hiển vi để kiểm tra tế bào ung thư. (Bác sĩ phẫu thuật không rạch qua bìu vào tinh hoàn để lấy mẫu mô làm sinh thiết, vì nếu có ung thư, thủ thuật này có thể khiến ung thư lan vào bìu và các hạch bạch huyết. Điều quan trọng là chọn bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm về loại phẫu thuật này.) Nếu phát hiện ung thư, loại tế bào (u tinh hoặc không phải u tinh) sẽ được xác định để giúp lập kế hoạch điều trị.
Tiên lượng ung thư tinh hoàn
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng (khả năng hồi phục) và các lựa chọn điều trị. Tiên lượng và lựa chọn điều trị phụ thuộc vào những yếu tố sau:
-
Giai đoạn ung thư, tức là ung thư chỉ ở trong hoặc gần tinh hoàn hay đã lan đến những vị trí khác trong cơ thể, và nồng độ AFP, beta-hCG và LDH trong máu.
-
Loại ung thư.
-
Kích thước khối u.
-
Số lượng và kích thước các hạch bạch huyết sau phúc mạc.
Ung thư tinh hoàn thường có thể được chữa khỏi ở những người bệnh được hóa trị hoặc xạ trị bổ trợ sau điều trị ban đầu.
Các nhóm tiên lượng của khối u tinh hoàn
Các khối u tinh hoàn được chia thành ba nhóm, dựa trên mức độ đáp ứng dự kiến của khối u với điều trị:
Tiên lượng tốt
Đối với không phải u tinh, tất cả các điều kiện sau phải đúng:
-
Khối u chỉ được tìm thấy ở tinh hoàn hoặc ở sau phúc mạc, là vùng ở bên ngoài hoặc phía sau thành bụng; và
-
Khối u chưa lan đến các cơ quan khác ngoài phổi; và
-
Nồng độ của tất cả các dấu ấn khối u chỉ cao hơn mức bình thường một chút.
Đối với u tinh, tất cả các điều kiện sau phải đúng:
-
Khối u chưa lan đến các cơ quan khác ngoài phổi; và
-
Nồng độ alpha-fetoprotein (AFP) bình thường. Beta-human chorionic gonadotropin (beta-hCG) và lactate dehydrogenase (LDH) có thể ở bất kỳ mức nào.
Tiên lượng trung bình
Đối với không phải u tinh, tất cả các điều kiện sau phải đúng:
-
Khối u chỉ được tìm thấy ở một tinh hoàn hoặc ở sau phúc mạc, là vùng ở bên ngoài hoặc phía sau thành bụng; và
-
Khối u chưa lan đến các cơ quan khác ngoài phổi; và
-
Nồng độ của bất kỳ một dấu ấn khối u nào cao hơn mức bình thường nhiều hơn một chút.
Đối với u tinh, tất cả các điều kiện sau phải đúng:
-
Khối u đã lan đến các cơ quan khác ngoài phổi; và
-
Nồng độ AFP bình thường. Beta-hCG và LDH có thể ở bất kỳ mức nào.
Tiên lượng xấu
Đối với không phải u tinh, ít nhất một trong các điều kiện sau phải đúng:
-
Khối u nằm ở trung tâm ngực, giữa hai phổi; hoặc
-
Khối u đã lan đến các cơ quan khác ngoài phổi; hoặc
-
Nồng độ của bất kỳ một dấu ấn khối u nào cao.
Không có nhóm tiên lượng xấu đối với khối u tinh hoàn loại u tinh.
Các giai đoạn
Sau khi chẩn đoán ung thư tinh hoàn, các xét nghiệm được thực hiện để xác định liệu tế bào ung thư đã lan trong tinh hoàn hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể hay chưa.
Quá trình xác định liệu ung thư đã lan trong tinh hoàn hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể được gọi là phân giai đoạn. Thông tin thu thập được từ quá trình phân giai đoạn giúp xác định giai đoạn bệnh. Việc biết giai đoạn bệnh rất quan trọng để lập kế hoạch điều trị.
Các xét nghiệm để phân giai đoạn ung thư tinh hoàn
Các xét nghiệm và thủ thuật sau có thể được sử dụng trong quá trình phân giai đoạn:
-
Chụp X-quang ngực: Chụp X-quang các cơ quan và xương bên trong lồng ngực. Tia X là một loại chùm năng lượng có thể đi xuyên qua cơ thể và ghi lên phim, tạo ra hình ảnh các vùng bên trong cơ thể.
-
Chụp cắt lớp vi tính (CT) (chụp CAT): Thủ thuật tạo ra một loạt hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể, chẳng hạn như bụng, được chụp từ nhiều góc độ khác nhau. Hình ảnh được tạo ra bởi máy tính kết nối với máy X-quang. Chất cản quang có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc uống để giúp các cơ quan hoặc mô hiện rõ hơn. Thủ thuật này cũng được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp bằng máy tính hoặc chụp cắt lớp trục vi tính.
-
Chụp MRI (cộng hưởng từ): Thủ thuật sử dụng nam châm, sóng vô tuyến và máy tính để tạo ra một loạt hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể, chẳng hạn như bụng. Thủ thuật này cũng được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân (NMRI).
-
Nạo hạch bạch huyết ổ bụng: Thủ thuật phẫu thuật loại bỏ các hạch bạch huyết trong ổ bụng, sau đó kiểm tra mẫu mô dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu ung thư. Thủ thuật này cũng được gọi là cắt hạch bạch huyết. Đối với người bệnh không phải u tinh, việc loại bỏ các hạch bạch huyết có thể giúp ngăn bệnh lan rộng. Các tế bào ung thư trong hạch bạch huyết ở người bệnh u tinh có thể được điều trị bằng xạ trị.
-
Xét nghiệm dấu ấn khối u huyết thanh: Thủ thuật xét nghiệm mẫu máu để đo nồng độ một số chất do các cơ quan, mô hoặc tế bào khối u trong cơ thể giải phóng vào máu. Một số chất có liên quan đến các loại ung thư cụ thể khi nồng độ của chúng trong máu tăng cao. Những chất này được gọi là dấu ấn khối u. Ba dấu ấn khối u sau được dùng trong phân giai đoạn ung thư tinh hoàn: Alpha-fetoprotein (AFP). Beta-human chorionic gonadotropin (beta-hCG). Lactate dehydrogenase (LDH).
-
Alpha-fetoprotein (AFP)
-
Beta-human chorionic gonadotropin (beta-hCG).
-
Lactate dehydrogenase (LDH).
Nồng độ dấu ấn khối u được đo lại sau khi cắt tinh hoàn đường bẹn và sinh thiết để xác định giai đoạn ung thư. Điều này giúp cho biết liệu toàn bộ ung thư đã được loại bỏ hay chưa, hoặc có cần điều trị thêm hay không. Nồng độ dấu ấn khối u cũng được đo trong quá trình theo dõi để kiểm tra xem ung thư có tái phát hay không.
Ung thư lan rộng trong cơ thể như thế nào
Ung thư có thể lan qua mô, hệ bạch huyết và máu:
-
Mô. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách phát triển vào các vùng lân cận.
-
Hệ bạch huyết. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách xâm nhập vào hệ bạch huyết. Ung thư di chuyển qua các mạch bạch huyết đến những bộ phận khác của cơ thể.
-
Máu. Ung thư lan từ nơi bắt đầu bằng cách xâm nhập vào máu. Ung thư di chuyển qua các mạch máu đến những bộ phận khác của cơ thể.
Ung thư có thể lan từ nơi bắt đầu đến các bộ phận khác của cơ thể
Khi ung thư lan đến một bộ phận khác của cơ thể, tình trạng này được gọi là di căn. Tế bào ung thư tách khỏi nơi chúng bắt đầu, tức khối u nguyên phát, và di chuyển qua hệ bạch huyết hoặc máu.
-
Hệ bạch huyết. Ung thư xâm nhập vào hệ bạch huyết, di chuyển qua các mạch bạch huyết và tạo thành một khối u, gọi là khối u di căn, ở bộ phận khác của cơ thể.
-
Máu. Ung thư xâm nhập vào máu, di chuyển qua các mạch máu và tạo thành một khối u, gọi là khối u di căn, ở bộ phận khác của cơ thể.
Khối u di căn là cùng loại ung thư với khối u nguyên phát. Ví dụ, nếu ung thư tinh hoàn lan đến phổi, các tế bào ung thư trong phổi thực chất là tế bào ung thư tinh hoàn. Bệnh này là ung thư tinh hoàn di căn, không phải ung thư phổi.
Các giai đoạn sau được sử dụng cho ung thư tinh hoàn:
Giai đoạn 0
Ở giai đoạn 0, các tế bào bất thường được tìm thấy trong những ống nhỏ nơi tế bào tinh trùng bắt đầu phát triển. Những tế bào bất thường này có thể trở thành ung thư và lan vào mô bình thường lân cận. Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường. Giai đoạn 0 cũng được gọi là tân sinh tế bào mầm tại chỗ.
Ung thư tinh hoàn giai đoạn I (1)
Ở giai đoạn I, ung thư đã hình thành. Giai đoạn I được chia thành các giai đoạn IA, IB và IS.
- Ở giai đoạn IA, ung thư được tìm thấy trong tinh hoàn, bao gồm cả lưới tinh hoàn, nhưng chưa lan đến các mạch máu hoặc mạch bạch huyết trong tinh hoàn.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường.
-
Ở giai đoạn IB, ung thư: được tìm thấy trong tinh hoàn, bao gồm cả lưới tinh hoàn, và đã lan đến các mạch máu hoặc mạch bạch huyết trong tinh hoàn; hoặc đã lan vào mô mềm vùng rốn tinh hoàn, là mô gồm các sợi và mỡ có mạch máu và mạch bạch huyết, mào tinh hoàn hoặc các màng ngoài bao quanh tinh hoàn; hoặc đã lan đến thừng tinh; hoặc đã lan đến bìu.
-
được tìm thấy trong tinh hoàn, bao gồm cả lưới tinh hoàn, và đã lan đến các mạch máu hoặc mạch bạch huyết trong tinh hoàn; hoặc
-
đã lan vào mô mềm vùng rốn tinh hoàn, là mô gồm các sợi và mỡ có mạch máu và mạch bạch huyết, mào tinh hoàn hoặc các màng ngoài bao quanh tinh hoàn; hoặc
-
đã lan đến thừng tinh; hoặc
-
đã lan đến bìu.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường.
- Ở giai đoạn IS, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu.
Nồng độ dấu ấn khối u dao động từ cao hơn mức bình thường một chút đến cao.
Ung thư tinh hoàn giai đoạn II (2)
Giai đoạn II được chia thành các giai đoạn IIA, IIB và IIC.
- Ở giai đoạn IIA, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư đã lan đến 1 đến 5 hạch bạch huyết lân cận và các hạch bạch huyết có kích thước từ 2 cm trở xuống.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường hoặc chỉ cao hơn mức bình thường một chút.
-
Ở giai đoạn IIB, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư đã lan đến: 1 hạch bạch huyết lân cận và hạch này lớn hơn 2 cm nhưng không lớn hơn 5 cm; hoặc hơn 5 hạch bạch huyết lân cận và các hạch này không lớn hơn 5 cm; hoặc một hạch bạch huyết lân cận và ung thư đã lan ra ngoài hạch bạch huyết.
-
1 hạch bạch huyết lân cận và hạch này lớn hơn 2 cm nhưng không lớn hơn 5 cm; hoặc
-
hơn 5 hạch bạch huyết lân cận và các hạch này không lớn hơn 5 cm; hoặc
-
một hạch bạch huyết lân cận và ung thư đã lan ra ngoài hạch bạch huyết.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường hoặc chỉ cao hơn mức bình thường một chút.
- Ở giai đoạn IIC, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư đã lan đến một hạch bạch huyết lân cận và hạch này lớn hơn 5 cm.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường hoặc chỉ cao hơn mức bình thường một chút.
Ung thư tinh hoàn giai đoạn III (3)
Giai đoạn III được chia thành các giai đoạn IIIA, IIIB và IIIC.
- Ở giai đoạn IIIA, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư có thể đã lan đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc đến phổi.
Tất cả nồng độ dấu ấn khối u đều bình thường hoặc chỉ cao hơn mức bình thường một chút.
-
Ở giai đoạn IIIB, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư đã lan: đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận và chưa lan đến các bộ phận khác của cơ thể; hoặc đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc đến phổi.
-
đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận và chưa lan đến các bộ phận khác của cơ thể; hoặc
-
đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc đến phổi.
Nồng độ của một hoặc nhiều dấu ấn khối u cao hơn mức bình thường ở mức độ vừa.
-
Ở giai đoạn IIIC, ung thư được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư đã lan: đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận và chưa lan đến các bộ phận khác của cơ thể; hoặc đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc đến phổi.
-
đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận và chưa lan đến các bộ phận khác của cơ thể; hoặc
-
đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc đến phổi.
Nồng độ của một hoặc nhiều dấu ấn khối u (tumor marker) cao.
Ung thư được phát hiện ở bất kỳ vị trí nào trong tinh hoàn và có thể đã lan vào thừng tinh hoặc bìu. Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết ở xa hoặc phổi, nhưng đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc xương.
Nồng độ dấu ấn khối u có thể từ bình thường đến cao.
Ung thư tinh hoàn tái phát
Ung thư tinh hoàn có thể tái phát (quay trở lại) sau khi đã được điều trị. Ung thư có thể quay trở lại nhiều năm sau ung thư ban đầu, ở tinh hoàn còn lại hoặc ở các bộ phận khác của cơ thể.
Sau khi đã rõ giai đoạn, xem tiếp các hướng điều trị tại Điều trị ung thư tinh hoàn.
