Phương pháp điều trị
Xạ trị định vị thân (SBRT)
Xạ trị định vị thân là kỹ thuật chiếu tia rất chính xác với liều cao vào khối u nhỏ ngoài não, chỉ trong vài buổi. Hay dùng cho ung thư phổi sớm không mổ được hoặc bệnh di căn ít ổ.
Bài giải thích thuật ngữ giúp bạn hiểu giấy tờ khám bệnh và trao đổi với bác sĩ, không thay thế tư vấn của bác sĩ điều trị. Cập nhật ngày 1/10/2026. Quy trình biên tập
Xạ trị định vị thân là gì
Xạ trị định vị thân (SBRT), còn gọi là xạ trị định vị lập thể thân hoặc xạ trị định vị huỷ u (SABR), là một kiểu xạ trị ngoài. Kỹ thuật này dùng thiết bị đặc biệt để cố định tư thế người bệnh và đưa tia xạ thật chính xác vào khối u ở trong cơ thể, trừ não. Nhờ độ chính xác cao, kỹ thuật này giúp bảo vệ mô lành xung quanh. [1]
Xạ trị thông thường giống như tưới nước đều cho cả một luống rau mỗi ngày trong nhiều tuần. Xạ trị định vị thân giống như dùng kính lúp gom ánh nắng vào đúng một điểm: nhiều chùm tia nhỏ được chiếu từ nhiều hướng khác nhau, gặp nhau tại khối u, tạo ra liều rất cao ở đó mà mô lành trên đường đi chỉ nhận liều thấp. [3]
Thay vì chiếu liều nhỏ mỗi ngày trong nhiều tuần, xạ trị định vị thân dùng liều cao trong ít buổi hơn, thường từ 1 đến 5 buổi. [3] Kỹ thuật tương tự dùng cho khối u trong não được gọi là xạ phẫu. [2]
Vì sao điều này quan trọng với người bệnh
Xạ trị định vị thân mở ra lựa chọn điều trị cho những người không thể hoặc không muốn mổ. Kỹ thuật này thường được dùng cho:
- Ung thư phổi giai đoạn sớm khi không mổ được vì sức khoẻ, hoặc khi người bệnh không muốn mổ. [3]
- Khối u nhỏ, riêng lẻ ngoài não và tủy sống, thường ở gan hoặc phổi, khi không mổ được do tuổi, bệnh kèm theo hoặc vị trí khối u. [2]
- Bệnh lan tới ít vị trí, ví dụ vài ổ di căn ở tuyến thượng thận. [3]
Vì số buổi ít, người bệnh đỡ phải đi lại nhiều, điều này có ý nghĩa với người lớn tuổi hoặc ở xa bệnh viện.
Quá trình điều trị
- Mô phỏng và lập kế hoạch: người bệnh được chụp cắt lớp vi tính (CT) để xác định chính xác vị trí, kích thước khối u. Bác sĩ và kỹ sư vật lý lập kế hoạch để các chùm tia hội tụ đúng vào khối u.
- Cố định tư thế: mỗi buổi, người bệnh nằm trong khung hoặc đệm cố định thiết kế riêng để hạn chế cử động. Khối u ở phổi hay gan có thể di chuyển theo nhịp thở, nên việc giữ yên rất quan trọng. [2] [3]
- Chiếu xạ: mỗi buổi thường một lần mỗi ngày, có thể tới năm buổi. [2] Người bệnh không cảm thấy tia xạ trong khi chiếu.
Vì khối u ngoài não di chuyển theo nhịp thở và tiêu hoá, tia không thể nhắm chính xác tuyệt đối như với khối u trong não. Đó là lý do xạ trị định vị thân thường chia ra nhiều buổi thay vì chỉ một. [2]
Tác dụng phụ
Tác dụng phụ phụ thuộc vùng được chiếu. Với vùng ngực, người bệnh có thể gặp mệt mỏi, thay đổi da vùng chiếu, ho, khó thở do tổn thương phổi, hoặc đau họng và khó nuốt khi thực quản nằm gần vùng chiếu. Phần lớn các triệu chứng này giảm sau khi kết thúc điều trị, dù đôi khi không hết hoàn toàn. [3]
Người bệnh nên báo ngay nếu khó thở tăng lên, ho nhiều, sốt, hoặc đau ngực trong những tuần đến tháng sau điều trị.
Câu hỏi nên hỏi bác sĩ
- Vì sao tôi phù hợp với xạ trị định vị thân thay vì phẫu thuật hoặc xạ trị thông thường?
- Tôi cần bao nhiêu buổi, và mỗi buổi kéo dài bao lâu?
- Những tác dụng phụ nào có thể xuất hiện muộn sau vài tháng?
- Sau điều trị, tôi sẽ được chụp kiểm tra khi nào để biết khối u đáp ứng?
- Bệnh viện nào ở gần tôi có kỹ thuật này?
Nguồn tham khảo
- NCI Dictionary of Cancer Terms, stereotactic body radiation therapy: https://www.cancer.gov/publications/dictionaries/cancer-terms/def/stereotactic-body-radiation-therapy
- National Cancer Institute, External Beam Radiation Therapy for Cancer: https://www.cancer.gov/about-cancer/treatment/types/radiation-therapy/external-beam
- American Cancer Society, Radiation Therapy for Non-small Cell Lung Cancer: https://www.cancer.org/cancer/types/lung-cancer/treating-non-small-cell/radiation-therapy.html
