Phòng ngừa là gì?
Phòng ngừa ung thư là các hành động được thực hiện để giảm khả năng mắc ung thư. Khi phòng ngừa ung thư, số ca ung thư mới trong một nhóm người hoặc quần thể sẽ giảm. Hy vọng rằng điều này cũng sẽ làm giảm số người tử vong do ung thư.
Để ngăn ngừa ung thư mới bắt đầu phát triển, các nhà khoa học nghiên cứu các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ. Bất cứ điều gì làm tăng khả năng phát triển ung thư được gọi là yếu tố nguy cơ ung thư; bất cứ điều gì làm giảm khả năng phát triển ung thư được gọi là yếu tố bảo vệ chống ung thư.
Có thể tránh được một số yếu tố nguy cơ ung thư, nhưng nhiều yếu tố khác thì không thể. Ví dụ, cả hút thuốc và thừa hưởng một số gen nhất định đều là yếu tố nguy cơ của một số loại ung thư, nhưng chỉ có thể tránh hút thuốc. Tập thể dục đều đặn và chế độ ăn lành mạnh có thể là yếu tố bảo vệ đối với một số loại ung thư. Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể làm giảm nguy cơ, nhưng không có nghĩa là bạn sẽ không mắc ung thư.
Các phương pháp khác nhau để phòng ngừa ung thư đang được nghiên cứu, bao gồm:
-
thay đổi lối sống hoặc thói quen ăn uống
-
tránh những yếu tố được biết là gây ung thư
-
dùng thuốc để điều trị tình trạng tiền ung thư hoặc ngăn ung thư bắt đầu phát triển
Thông tin chung về ung thư phổi
Các điểm chính
-
Ung thư phổi là bệnh trong đó các tế bào ác tính, tức tế bào ung thư, hình thành trong các mô của phổi.
-
Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở cả nam và nữ.
Ung thư phổi là bệnh trong đó các tế bào ác tính, tức tế bào ung thư, hình thành trong các mô của phổi.
Phổi là một cặp cơ quan hô hấp hình nón nằm trong lồng ngực. Phổi đưa oxy vào cơ thể khi bạn hít vào. Phổi thải carbon dioxide, một chất thải từ các tế bào của cơ thể, khi bạn thở ra. Mỗi phổi có các phần được gọi là thùy. Phổi trái có hai thùy. Phổi phải lớn hơn một chút và có ba thùy. Một màng mỏng gọi là màng phổi bao quanh phổi. Hai ống gọi là phế quản dẫn từ khí quản đến phổi phải và phổi trái. Phế quản đôi khi cũng bị ảnh hưởng bởi ung thư phổi. Các túi khí nhỏ gọi là phế nang và các ống nhỏ gọi là tiểu phế quản tạo nên phần bên trong của phổi.
Có hai loại ung thư phổi chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Các bản tóm tắt PDQ khác có thông tin liên quan đến ung thư phổi gồm:
-
Sàng lọc ung thư phổi
-
Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ
-
Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ
-
Hút thuốc lá: Nguy cơ sức khỏe và cách cai thuốc
Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở cả nam và nữ.
Tỷ lệ mắc ung thư phổi và số ca tử vong do bệnh này ở nam giới Da đen cao hơn so với các nhóm chủng tộc và sắc tộc khác tại Hoa Kỳ.
Phòng ngừa ung thư phổi
Các điểm chính
-
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư phổi.
-
Các yếu tố sau là yếu tố nguy cơ của ung thư phổi: Hút thuốc lá điếu, xì gà và tẩu; khói thuốc thụ động; tiền sử gia đình; nhiễm HIV; các yếu tố nguy cơ môi trường; thực phẩm bổ sung beta carotene ở người hút thuốc nhiều
-
Hút thuốc lá điếu, xì gà và tẩu
-
Khói thuốc thụ động
-
Tiền sử gia đình
-
Nhiễm HIV
-
Các yếu tố nguy cơ môi trường
-
Thực phẩm bổ sung beta carotene ở người hút thuốc nhiều
-
Các yếu tố sau là yếu tố bảo vệ đối với ung thư phổi: Không hút thuốc; cai thuốc lá; giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc; giảm phơi nhiễm radon
-
Không hút thuốc
-
Cai thuốc lá
-
Giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc
-
Giảm phơi nhiễm radon
-
Chưa rõ liệu các yếu tố sau có làm giảm nguy cơ ung thư phổi hay không: Chế độ ăn; hoạt động thể chất
-
Chế độ ăn
-
Hoạt động thể chất
-
Các yếu tố sau không làm giảm nguy cơ ung thư phổi: Thực phẩm bổ sung beta carotene ở người không hút thuốc; thực phẩm bổ sung vitamin E
-
Thực phẩm bổ sung beta carotene ở người không hút thuốc
-
Thực phẩm bổ sung vitamin E
-
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu các cách phòng ngừa ung thư.
-
Các cách mới để phòng ngừa ung thư phổi đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư phổi.
Tránh các yếu tố nguy cơ ung thư có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc, thừa cân và không tập thể dục đủ. Tăng các yếu tố bảo vệ như cai thuốc lá và tập thể dục cũng có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Hãy trao đổi với bác sĩ hoặc nhân viên y tế khác về cách bạn có thể giảm nguy cơ ung thư.
Các yếu tố sau là yếu tố nguy cơ của ung thư phổi:
Hút thuốc lá điếu, xì gà và tẩu
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư phổi. Hút thuốc lá điếu, xì gà và tẩu đều làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Hút thuốc lá gây ra khoảng 9 trong 10 ca ung thư phổi ở nam giới và khoảng 8 trong 10 ca ung thư phổi ở nữ giới.
Các nghiên cứu cho thấy hút thuốc lá có hàm lượng hắc ín hoặc nicotine thấp không làm giảm nguy cơ ung thư phổi.
Các nghiên cứu cũng cho thấy nguy cơ ung thư phổi do hút thuốc lá tăng theo số điếu thuốc hút mỗi ngày và số năm hút thuốc. Người hút thuốc có nguy cơ ung thư phổi cao gấp khoảng 20 lần so với người không hút thuốc.
Khói thuốc thụ động
Phơi nhiễm khói thuốc lá thụ động cũng là một yếu tố nguy cơ của ung thư phổi. Khói thuốc thụ động là khói từ điếu thuốc lá hoặc sản phẩm thuốc lá khác đang cháy, hoặc là khói do người hút thuốc thở ra. Người hít phải khói thuốc thụ động tiếp xúc với các chất gây ung thư giống như người hút thuốc, mặc dù với lượng ít hơn. Hít khói thuốc thụ động được gọi là hút thuốc không tự nguyện hoặc hút thuốc thụ động.
Tiền sử gia đình
Có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi là một yếu tố nguy cơ của ung thư phổi. Người có người thân từng bị ung thư phổi có thể có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp đôi so với người không có người thân từng bị ung thư phổi. Vì hút thuốc lá thường có xu hướng xảy ra trong gia đình và các thành viên gia đình có thể tiếp xúc với khói thuốc thụ động, nên khó xác định nguy cơ ung thư phổi tăng lên là do tiền sử gia đình mắc ung thư phổi hay do tiếp xúc với khói thuốc lá.
Nhiễm HIV
Nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, gọi là HIV, là nguyên nhân gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, gọi là AIDS, và có liên quan đến nguy cơ ung thư phổi cao hơn. Người nhiễm HIV có thể có nguy cơ ung thư phổi cao hơn gấp đôi so với người không nhiễm. Vì tỷ lệ hút thuốc ở người nhiễm HIV cao hơn so với người không nhiễm HIV, chưa rõ nguy cơ ung thư phổi tăng lên là do nhiễm HIV hay do tiếp xúc với khói thuốc lá.
Các yếu tố nguy cơ môi trường
-
Phơi nhiễm bức xạ: Phơi nhiễm bức xạ là một yếu tố nguy cơ của ung thư phổi. Bức xạ từ bom nguyên tử, xạ trị, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh và radon là những nguồn phơi nhiễm bức xạ: Bức xạ từ bom nguyên tử: Phơi nhiễm bức xạ sau vụ nổ bom nguyên tử làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Xạ trị: Xạ trị vùng ngực có thể được dùng để điều trị một số ung thư, bao gồm ung thư vú và u lympho Hodgkin. Xạ trị sử dụng tia X, tia gamma hoặc các loại bức xạ khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Liều bức xạ nhận được càng cao thì nguy cơ càng cao. Nguy cơ ung thư phổi sau xạ trị cao hơn ở người hút thuốc so với người không hút thuốc. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh: Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, như chụp cắt lớp vi tính (CT) làm người bệnh tiếp xúc với bức xạ. Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc liều thấp làm người bệnh tiếp xúc với ít bức xạ hơn so với chụp cắt lớp vi tính liều cao. Trong sàng lọc ung thư phổi, sử dụng chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc liều thấp có thể giảm tác hại của bức xạ. Radon: Radon là một khí phóng xạ sinh ra từ sự phân rã của uranium trong đá và đất. Khí này thấm lên từ mặt đất và rò rỉ vào không khí hoặc nguồn nước. Radon có thể đi vào nhà qua các vết nứt ở sàn, tường hoặc nền móng, và nồng độ radon có thể tích tụ theo thời gian. Các nghiên cứu cho thấy nồng độ khí radon cao trong nhà hoặc nơi làm việc làm tăng số ca ung thư phổi mới và số ca tử vong do ung thư phổi. Nguy cơ ung thư phổi ở người hút thuốc tiếp xúc với radon cao hơn so với người không hút thuốc tiếp xúc với radon. Ở những người chưa từng hút thuốc, khoảng 26% số ca tử vong do ung thư phổi có liên quan đến phơi nhiễm radon.
-
Bức xạ từ bom nguyên tử: Phơi nhiễm bức xạ sau vụ nổ bom nguyên tử làm tăng nguy cơ ung thư phổi.
-
Xạ trị: Xạ trị vùng ngực có thể được dùng để điều trị một số ung thư, bao gồm ung thư vú và u lympho Hodgkin. Xạ trị sử dụng tia X, tia gamma hoặc các loại bức xạ khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Liều bức xạ nhận được càng cao thì nguy cơ càng cao. Nguy cơ ung thư phổi sau xạ trị cao hơn ở người hút thuốc so với người không hút thuốc.
-
Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh: Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, như chụp cắt lớp vi tính (CT) làm người bệnh tiếp xúc với bức xạ. Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc liều thấp làm người bệnh tiếp xúc với ít bức xạ hơn so với chụp cắt lớp vi tính liều cao. Trong sàng lọc ung thư phổi, sử dụng chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc liều thấp có thể giảm tác hại của bức xạ.
-
Radon: Radon là một khí phóng xạ sinh ra từ sự phân rã của uranium trong đá và đất. Khí này thấm lên từ mặt đất và rò rỉ vào không khí hoặc nguồn nước. Radon có thể đi vào nhà qua các vết nứt ở sàn, tường hoặc nền móng, và nồng độ radon có thể tích tụ theo thời gian.
Các nghiên cứu cho thấy nồng độ khí radon cao trong nhà hoặc nơi làm việc làm tăng số ca ung thư phổi mới và số ca tử vong do ung thư phổi. Nguy cơ ung thư phổi ở người hút thuốc tiếp xúc với radon cao hơn so với người không hút thuốc tiếp xúc với radon. Ở những người chưa từng hút thuốc, khoảng 26% số ca tử vong do ung thư phổi có liên quan đến phơi nhiễm radon.
-
Phơi nhiễm tại nơi làm việc: Các nghiên cứu cho thấy tiếp xúc với các chất sau làm tăng nguy cơ ung thư phổi: amiăng, asen, crom, niken, berili, cadimi, hắc ín và bồ hóng. Những chất này có thể gây ung thư phổi ở những người tiếp xúc với chúng tại nơi làm việc và chưa từng hút thuốc. Mức độ tiếp xúc với các chất này càng cao thì nguy cơ ung thư phổi càng tăng. Nguy cơ ung thư phổi còn cao hơn ở những người vừa tiếp xúc với các chất này vừa hút thuốc.
-
amiăng
-
asen
-
crom
-
niken
-
berili
-
cadimi
-
hắc ín và bồ hóng
Những chất này có thể gây ung thư phổi ở những người tiếp xúc với chúng tại nơi làm việc và chưa từng hút thuốc. Mức độ tiếp xúc với các chất này càng cao thì nguy cơ ung thư phổi càng tăng. Nguy cơ ung thư phổi còn cao hơn ở những người vừa tiếp xúc với các chất này vừa hút thuốc.
- Ô nhiễm không khí: Các nghiên cứu cho thấy sống tại khu vực có mức ô nhiễm không khí cao hơn làm tăng nguy cơ ung thư phổi.
Thực phẩm bổ sung beta carotene ở người hút thuốc nhiều
Dùng thực phẩm bổ sung beta carotene, dạng viên, làm tăng nguy cơ ung thư phổi, đặc biệt ở người hút từ một gói thuốc lá trở lên mỗi ngày. Nguy cơ cao hơn ở người hút thuốc uống ít nhất một đồ uống có cồn mỗi ngày.
Các yếu tố sau là yếu tố bảo vệ đối với ung thư phổi:
Không hút thuốc
Cách tốt nhất để phòng ngừa ung thư phổi là không hút thuốc.
Cai thuốc lá
Người hút thuốc có thể giảm nguy cơ ung thư phổi bằng cách cai thuốc lá. Ở người hút thuốc đã được điều trị ung thư phổi, cai thuốc lá làm giảm nguy cơ xuất hiện ung thư phổi mới. Tư vấn, sử dụng các sản phẩm thay thế nicotine và điều trị bằng thuốc chống trầm cảm đã giúp người hút thuốc cai thuốc lá lâu dài.
Ở người đã cai thuốc lá, khả năng phòng ngừa ung thư phổi phụ thuộc vào số năm và mức độ hút thuốc, cũng như thời gian kể từ khi cai thuốc. Sau khi một người cai thuốc lá được 10 năm, nguy cơ ung thư phổi giảm từ 30% đến 60%.
Mặc dù nguy cơ tử vong do ung thư phổi có thể giảm đáng kể khi cai thuốc lá trong thời gian dài, nguy cơ này sẽ không bao giờ thấp bằng nguy cơ ở người không hút thuốc. Vì vậy, điều quan trọng là người trẻ không bắt đầu hút thuốc.
Xem các thông tin sau để biết thêm về cai thuốc lá:
-
Thuốc lá, bao gồm hỗ trợ cai thuốc
-
Hút thuốc lá: Nguy cơ sức khỏe và cách cai thuốc
Giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc
Các luật bảo vệ người lao động khỏi tiếp xúc với các chất gây ung thư như amiăng, asen, niken và crom có thể giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi. Các luật cấm hút thuốc tại nơi làm việc giúp giảm nguy cơ ung thư phổi do khói thuốc thụ động.
Giảm phơi nhiễm radon
Giảm nồng độ radon có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi, đặc biệt ở người hút thuốc lá. Nồng độ radon cao trong nhà có thể được giảm bằng các biện pháp ngăn radon rò rỉ, chẳng hạn như bịt kín tầng hầm.
Chưa rõ liệu các yếu tố sau có làm giảm nguy cơ ung thư phổi hay không:
Chế độ ăn
Một số nghiên cứu cho thấy những người ăn nhiều trái cây hoặc rau củ có nguy cơ mắc ung thư phổi thấp hơn so với những người ăn ít. Tuy nhiên, vì người hút thuốc thường có chế độ ăn kém lành mạnh hơn người không hút thuốc, nên khó biết nguy cơ giảm là do có chế độ ăn lành mạnh hay do không hút thuốc.
Hoạt động thể chất
Một số nghiên cứu cho thấy những người hoạt động thể chất có nguy cơ mắc ung thư phổi thấp hơn những người không hoạt động thể chất. Tuy nhiên, vì mức độ hoạt động thể chất của người hút thuốc thường khác với người không hút thuốc, nên khó biết hoạt động thể chất có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư phổi hay không.
Những điều sau đây không làm giảm nguy cơ mắc ung thư phổi:
Bổ sung beta carotene ở người không hút thuốc
Các nghiên cứu ở người không hút thuốc cho thấy việc bổ sung beta carotene không làm giảm nguy cơ mắc ung thư phổi.
Bổ sung vitamin E
Các nghiên cứu cho thấy việc bổ sung vitamin E không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư phổi.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu những cách phòng ngừa ung thư.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu những cách làm giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư. Một số thử nghiệm phòng ngừa ung thư tuyển người khỏe mạnh, có thể có hoặc không có nguy cơ mắc ung thư cao hơn. Các thử nghiệm phòng ngừa khác tuyển những người đã từng mắc ung thư và đang cố gắng ngăn ung thư tái phát hoặc ngăn mắc một bệnh ung thư thứ hai.
Mục đích của một số thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư là tìm hiểu liệu những việc mọi người thực hiện có thể ngăn ngừa ung thư hay không. Những việc này có thể bao gồm ăn trái cây và rau củ, tập thể dục, bỏ hút thuốc hoặc dùng một số loại thuốc, vitamin, khoáng chất hoặc thực phẩm bổ sung.
Các cách mới để phòng ngừa ung thư phổi đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng do NCI hỗ trợ có thể được tìm thấy trên trang web tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của NCI. Các thử nghiệm lâm sàng do những tổ chức khác hỗ trợ có thể được tìm thấy trên trang web ClinicalTrials.gov.
