Phòng ngừa là gì?
Phòng ngừa ung thư là các hành động nhằm giảm khả năng mắc ung thư. Khi phòng ngừa ung thư, số ca ung thư mới trong một nhóm hoặc quần thể sẽ giảm. Hy vọng rằng điều này cũng sẽ làm giảm số người tử vong do ung thư.
Để ngăn ung thư mới bắt đầu hình thành, các nhà khoa học nghiên cứu các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ. Bất cứ điều gì làm tăng khả năng phát triển ung thư được gọi là yếu tố nguy cơ ung thư; bất cứ điều gì làm giảm khả năng phát triển ung thư được gọi là yếu tố bảo vệ chống ung thư.
Có thể tránh được một số yếu tố nguy cơ ung thư, nhưng nhiều yếu tố thì không. Ví dụ, cả hút thuốc và thừa hưởng một số gen nhất định đều là yếu tố nguy cơ của một số loại ung thư, nhưng chỉ có thể tránh hút thuốc. Tập thể dục thường xuyên và chế độ ăn lành mạnh có thể là các yếu tố bảo vệ đối với một số loại ung thư. Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ có thể làm giảm nguy cơ, nhưng không có nghĩa là bạn sẽ không mắc ung thư.
Các cách khác nhau để phòng ngừa ung thư đang được nghiên cứu.
Thông tin chung về ung thư da
Các điểm chính
-
Ung thư da là bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của da.
-
Có nhiều loại ung thư da.
-
Ung thư da là loại ung thư thường gặp nhất tại Hoa Kỳ.
Ung thư da là bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của da.
Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể. Da bảo vệ cơ thể khỏi nhiệt, ánh sáng mặt trời, chấn thương và nhiễm trùng. Da cũng giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể và dự trữ nước, mỡ và vitamin D. Da có nhiều lớp, nhưng hai lớp chính là biểu bì (epidermis), là lớp trên hoặc lớp ngoài, và trung bì (dermis), là lớp dưới hoặc lớp trong.
Biểu bì gồm ba loại tế bào:
-
Tế bào vảy (squamous cells) là các tế bào mỏng, phẳng, tạo nên phần lớn biểu bì.
-
Tế bào đáy (basal cells) là các tế bào tròn nằm bên dưới các tế bào vảy.
-
Tế bào hắc tố (melanocytes) nằm khắp phần dưới của biểu bì. Các tế bào này tạo ra melanin, là sắc tố tạo nên màu da tự nhiên. Khi da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, các tế bào hắc tố tạo ra nhiều sắc tố hơn, khiến da rám nắng hoặc sẫm màu hơn.
Trung bì chứa các mạch máu và mạch bạch huyết, nang lông và các tuyến.
Các bản tóm tắt PDQ khác có thông tin liên quan đến ung thư da bao gồm:
-
Điều trị ung thư da
-
Điều trị u hắc tố
-
Di truyền học của ung thư da
Có nhiều loại ung thư da.
Có hai loại ung thư da chính:
-
Ung thư da không phải u hắc tố (nonmelanoma), còn được gọi là ung thư biểu mô tế bào sừng (keratinocyte carcinoma), bao gồm: ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma, SCC) của da và ung thư biểu mô tế bào đáy
-
Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) của da
-
Ung thư biểu mô tế bào đáy
-
U hắc tố (melanoma)
Các loại ung thư da thường gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy, hình thành từ các tế bào vảy, và ung thư biểu mô tế bào đáy, hình thành từ các tế bào đáy. U hắc tố, hình thành từ các tế bào hắc tố, là một loại ung thư da ít gặp hơn nhưng phát triển và lan rộng nhanh.
Ung thư da có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nhưng thường gặp nhất tại các vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, như mặt, cổ, bàn tay và cánh tay.
Ung thư da là loại ung thư thường gặp nhất tại Hoa Kỳ.
Ung thư da không phải u hắc tố, gồm ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy, là loại ung thư da thường gặp nhất tại Hoa Kỳ. Số ca ung thư da không phải u hắc tố mới dường như tăng lên mỗi năm. Ung thư da không phải u hắc tố thường có thể chữa khỏi.
Ngược lại, u hắc tố có nhiều khả năng lan đến các mô lân cận và các bộ phận khác của cơ thể hơn, đồng thời có thể khó chữa khỏi hơn. Phát hiện và điều trị sớm ung thư da u hắc tố có thể giúp phòng ngừa tử vong do u hắc tố.
Phòng ngừa ung thư da
Các điểm chính
-
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư.
-
Tiếp xúc với tia cực tím là một yếu tố nguy cơ của ung thư da.
-
Điều trị da bị tổn thương do ánh nắng để phòng ngừa ung thư da: fluorouracil bôi tại chỗ
-
Fluorouracil bôi tại chỗ
-
Chưa biết liệu những biện pháp sau có làm giảm nguy cơ ung thư da không phải u hắc tố hay không: sử dụng kem chống nắng và tránh tiếp xúc với ánh nắng; các thuốc dự phòng hóa học
-
Sử dụng kem chống nắng và tránh tiếp xúc với ánh nắng
-
Các thuốc dự phòng hóa học
-
Chưa biết liệu những biện pháp sau có làm giảm nguy cơ u hắc tố hay không: kem chống nắng; tư vấn và bảo vệ da khỏi ánh nắng
-
Kem chống nắng
-
Tư vấn và bảo vệ da khỏi ánh nắng
-
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu các cách phòng ngừa ung thư.
-
Các phương pháp mới để phòng ngừa ung thư da đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Tránh các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ có thể giúp phòng ngừa ung thư.
Tránh các yếu tố nguy cơ ung thư có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc, thừa cân và không tập thể dục đầy đủ. Tăng cường các yếu tố bảo vệ như bỏ thuốc lá và tập thể dục cũng có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư. Hãy trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác về cách bạn có thể giảm nguy cơ ung thư.
Tiếp xúc với tia cực tím là một yếu tố nguy cơ của ung thư da.
Một số nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc với bức xạ cực tím (ultraviolet, UV) và độ nhạy cảm của da với bức xạ UV là các yếu tố nguy cơ của ung thư da. Bức xạ UV là tên gọi của các tia vô hình thuộc một phần năng lượng đến từ mặt trời. Đèn chiếu nắng và giường tắm nắng cũng phát ra bức xạ UV.
Các yếu tố nguy cơ đối với ung thư da không phải u hắc tố và u hắc tố không giống nhau.
-
Các yếu tố nguy cơ của ung thư da không phải u hắc tố: tiếp xúc với ánh nắng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo, như từ giường tắm nắng, trong thời gian dài; có nước da sáng màu, bao gồm: da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém; mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác; tóc đỏ hoặc vàng; có dày sừng quang hóa; từng điều trị bằng bức xạ; hệ miễn dịch suy yếu, bao gồm người được điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch sau ghép tạng; tiếp xúc với asen
-
Tiếp xúc với ánh nắng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo, như từ giường tắm nắng, trong thời gian dài
-
Có nước da sáng màu, bao gồm: da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém; mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác; tóc đỏ hoặc vàng
-
Da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém
-
Mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác
-
Tóc đỏ hoặc vàng
-
Có dày sừng quang hóa (actinic keratosis)
-
Từng điều trị bằng bức xạ
-
Có hệ miễn dịch suy yếu, bao gồm người được điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch sau ghép tạng
-
Tiếp xúc với asen
-
Các yếu tố nguy cơ của ung thư da u hắc tố: có nước da sáng màu, bao gồm: da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém; mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác; tóc đỏ hoặc vàng; tiếp xúc với ánh nắng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo, như từ giường tắm nắng, trong thời gian dài; có tiền sử nhiều lần cháy nắng gây phồng rộp, đặc biệt khi còn là trẻ em hoặc thanh thiếu niên; có nhiều nốt ruồi, còn gọi là nevus; có tiền sử gia đình có nốt ruồi bất thường, hội chứng nevus không điển hình; có tiền sử gia đình hoặc bản thân mắc u hắc tố; là người da trắng
-
Có nước da sáng màu, bao gồm: da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém; mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác; tóc đỏ hoặc vàng
-
Da sáng màu dễ bị tàn nhang và cháy nắng, không rám nắng hoặc rám nắng kém
-
Mắt màu xanh dương, xanh lá cây hoặc màu sáng khác
-
Tóc đỏ hoặc vàng
-
Tiếp xúc với ánh nắng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo, như từ giường tắm nắng, trong thời gian dài
-
Có tiền sử nhiều lần cháy nắng gây phồng rộp, đặc biệt khi còn là trẻ em hoặc thanh thiếu niên
-
Có nhiều nốt ruồi, còn gọi là nevus
-
Có tiền sử gia đình có nốt ruồi bất thường, hội chứng nevus không điển hình
-
Có tiền sử gia đình hoặc bản thân mắc u hắc tố
-
Là người da trắng
Mặc dù có nước da sáng màu là yếu tố nguy cơ của cả ung thư da không phải u hắc tố và u hắc tố, người có mọi màu da đều có thể mắc ung thư da.
Điều trị da bị tổn thương do ánh nắng để phòng ngừa ung thư da:
Fluorouracil bôi tại chỗ
Một nghiên cứu cho thấy bôi fluorouracil tại chỗ lên vùng da bị tổn thương do ánh nắng hằng ngày trong tối đa 4 tuần giúp ngăn ngừa hình thành các tổn thương dày sừng quang hóa mới. Các vùng được điều trị bằng fluorouracil tại chỗ có nguy cơ thấp hơn phát triển thành ung thư biểu mô tế bào vảy cần phẫu thuật. Nguy cơ thấp hơn phát triển thành ung thư biểu mô tế bào vảy được ghi nhận trong 1 năm sau điều trị. Tuy nhiên, fluorouracil bôi tại chỗ không làm thay đổi nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào đáy.
Chưa biết liệu những biện pháp sau có làm giảm nguy cơ ung thư da không phải u hắc tố hay không:
Sử dụng kem chống nắng và tránh tiếp xúc với ánh nắng
Chưa biết liệu nguy cơ ung thư da không phải u hắc tố có giảm khi tránh nắng, sử dụng kem chống nắng hoặc mặc quần áo bảo hộ khi ở ngoài trời hay không. Lý do là chưa có đủ nghiên cứu để chứng minh điều này.
Kem chống nắng đã được chứng minh giúp phòng ngừa cháy nắng và dày sừng quang hóa có thể phát triển thành ung thư biểu mô tế bào vảy, đồng thời làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng dày sừng quang hóa hiện có.
Tác hại của việc sử dụng kem chống nắng có thể là nhỏ, gồm phản ứng dị ứng với kem bôi da và lượng vitamin D được tạo ra trong da thấp hơn do tiếp xúc với ánh nắng ít hơn. Cũng có thể khi dùng kem chống nắng để tránh cháy nắng, một người có thể ở dưới nắng quá lâu và tiếp xúc với bức xạ UV có hại.
Mặc dù việc bảo vệ da và mắt khỏi ánh nắng chưa được chứng minh là làm giảm khả năng mắc ung thư da, các chuyên gia về da khuyến nghị:
-
Sử dụng kem chống nắng có tác dụng bảo vệ khỏi bức xạ UV
-
Hạn chế thời gian ở dưới nắng, đặc biệt khi ánh nắng mạnh nhất
-
Mặc áo dài tay, quần dài, đội mũ chống nắng và đeo kính râm khi ở ngoài trời
Các thuốc dự phòng hóa học
Dự phòng hóa học (chemoprevention) là việc sử dụng thuốc, vitamin hoặc các chất khác nhằm cố gắng giảm nguy cơ ung thư. Các thuốc dự phòng hóa học sau đây đã được nghiên cứu để xác định liệu chúng có làm giảm nguy cơ ung thư da không phải u hắc tố hay không:
Beta carotene
Các nghiên cứu về beta carotene, được dùng dưới dạng thực phẩm bổ sung dạng viên, chưa cho thấy chất này ngăn ngừa ung thư da không phải u hắc tố hình thành hoặc tái phát.
Isotretinoin và các retinoid liên quan
Retinoid là các hợp chất vitamin A hoặc tương tự vitamin A, được bôi lên da hoặc dùng đường uống. Isotretinoin là một loại retinoid đang được nghiên cứu trong phòng ngừa và điều trị một số loại ung thư.
Liều cao isotretinoin dùng đường uống đã được chứng minh giúp ngăn ngừa ung thư da mới ở người mắc khô da sắc tố (xeroderma pigmentosum). Kem isotretinoin chưa được chứng minh giúp ngăn ngừa ung thư da không phải u hắc tố tái phát ở người đã từng điều trị ung thư da không phải u hắc tố. Các phương pháp điều trị này có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng.
Selenium
Các nghiên cứu cho thấy selenium, được dùng trong viên men bia, không làm giảm nguy cơ ung thư biểu mô tế bào đáy và có thể làm tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vảy.
Celecoxib
Một nghiên cứu về celecoxib, một thuốc chống viêm không steroid (nonsteroidal anti-inflammatory drug, NSAID), ở người bị dày sừng quang hóa và có tiền sử ung thư da không phải u hắc tố cho thấy những người dùng celecoxib có tỷ lệ ung thư da không phải u hắc tố tái phát thấp hơn một chút. Celecoxib có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng trên tim và mạch máu.
Alpha difluoromethylornithine (DFMO)
Một nghiên cứu về alpha difluoromethylornithine (DFMO) ở người có tiền sử ung thư da không phải u hắc tố cho thấy những người dùng DFMO có tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào đáy thấp hơn so với những người dùng giả dược, nhưng không có khác biệt về tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào vảy. Tuy nhiên, những người dùng DFMO bị giảm thính lực nhiều hơn nhóm dùng giả dược, dẫn đến tỷ lệ người ngừng dùng thuốc này cao hơn.
Nicotinamide (vitamin B3)
Các nghiên cứu cho thấy nicotinamide (vitamin B3) có thể giúp phòng ngừa hình thành các tổn thương dày sừng quang hóa mới ở những người có bốn hoặc ít hơn bốn tổn thương quang hóa trước khi dùng nicotinamide. Tuy nhiên, một nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ mắc ung thư da không phải u hắc tố tăng lên ở những người vài tháng sau khi họ được điều trị bằng nicotinamide. Cần thêm các nghiên cứu để xác định liệu nicotinamide có ngăn ngừa ung thư da không phải u hắc tố hình thành hoặc tái phát hay không.
Chưa biết liệu những biện pháp sau có làm giảm nguy cơ u hắc tố hay không:
Kem chống nắng
Chưa được chứng minh rằng dùng kem chống nắng để phòng ngừa cháy nắng có thể bảo vệ khỏi u hắc tố do bức xạ UV gây ra. Các yếu tố nguy cơ khác như có làn da dễ cháy nắng, có nhiều nốt ruồi lành tính, không phải ung thư, hoặc có nevus không điển hình cũng có thể đóng vai trò trong việc u hắc tố có hình thành hay không.
Tư vấn và bảo vệ da khỏi ánh nắng
Các nghiên cứu cho thấy những người nhận được tư vấn hoặc thông tin về việc tránh tiếp xúc với ánh nắng cải thiện các thói quen bảo vệ khỏi ánh nắng. Những nghiên cứu này cho thấy kết quả không thống nhất về việc giảm cháy nắng và không cho thấy liệu ung thư da có giảm hay không.
Tác hại của việc tránh tiếp xúc với ánh nắng có thể bao gồm rối loạn tâm trạng, rối loạn giấc ngủ, huyết áp cao hơn và suy giảm chuyển hóa vitamin D.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu các cách phòng ngừa ung thư.
Các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư được sử dụng để nghiên cứu các cách làm giảm nguy cơ phát triển một số loại ung thư. Một số thử nghiệm phòng ngừa ung thư bao gồm người khỏe mạnh có thể có hoặc không có nguy cơ ung thư tăng cao. Các thử nghiệm phòng ngừa khác bao gồm những người đã từng bị ung thư và đang cố gắng ngăn ngừa ung thư tái phát hoặc ngăn ngừa một ung thư thứ hai.
Mục đích của một số thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa ung thư là tìm hiểu liệu những hành động mà mọi người thực hiện có thể phòng ngừa ung thư hay không. Những hành động này có thể bao gồm ăn trái cây và rau củ, tập thể dục, bỏ hút thuốc, hoặc dùng một số thuốc, vitamin, khoáng chất hoặc thực phẩm bổ sung.
Các phương pháp mới để phòng ngừa ung thư da đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng được NCI hỗ trợ có thể tìm thấy trên trang web tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của NCI. Các thử nghiệm lâm sàng được những tổ chức khác hỗ trợ có thể tìm thấy trên trang web ClinicalTrials.gov.
